MỘT SỐ THÀNH TỰU CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC SAU 20 NĂM TÁI LẬP.

16/05/2017

 

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng được tái lập ngày 01/01/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX. Thời điểm tái lập, tỉnh Vĩnh Phúc có xuất phát điểm thấp với quy mô nền kinh tế nhỏ bé và dựa chủ yếu vào nông nghiệp; Công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém. Thu ngân sách thấp, phải nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương. Các lĩnh vực văn hóa xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu; thu nhập và mức sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao,…

Tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng, phát triển dịch vụ du lịch là mũi nhọn và coi nông nghiệp và phát triển nông thôn là nhiệm vụ quan trọng. Được sự quan tâm của Đảng, của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, cùng với sự năng động, sáng tạo trong công tác chỉ đạo, điều hành của Cấp ủy chính quyền các cấp; sự đoàn kết, cố gắng của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh. Sau 20 năm tái lập, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định và nâng cao vị thế so với các tỉnh, thành phố trong vùng và cả nước. Kết quả cụ thể như sau:

Về phát triển kinh tế  

 

Nền kinh tế của tỉnh đã có những phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn đạt ở mức cao so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và cao hơn cả nước: Bình quân giai đoạn 1997-2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 15,37%/năm, trong đó ngành công nghiệp xây dựng tăng bình quân 23,9%, đưa quy mô nền kinh tế tăng gấp gần 40 lần so năm 1997 (t1,96 ngàn tỷ đồng năm 1997 lên 77,2 ngàn tỷ đồng năm 2016). Giá trị thu nhập (GRDP-giá hiện hành) bình quân đầu người liên tục tăng, từ 2,18 triệu đồng/người năm 1997  lên 72,3 triệu đồng/người năm 2016.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng, giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp thủy sản. Đến năm 2016, tỉnh Vĩnh Phúc có cơ cấu kinh tế Công nghiệp – Xây dựng chiếm 61,91%; Dịch vụ 27,75% và Nông lâm nghiệp thủy sản 10,35%. Đạt và vượt mục tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ.

- Thu ngân sách nhà nước tăng nhanh: Quy mô nền kinh tế phát triển mạnh qua các năm đã tạo điều kiện cho thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng cao. Từ một tỉnh phụ thuộc vào ngân sách Trung ương, năm 1997 thu ngân sách mới đạt 114 tỷ đồng, sau 5 năm, đến năm 2002 thu ngân sách đã đạt trên 1.000 tỷ đồng; Đến năm 2004 tỉnh Vĩnh Phúc đã tự cân đối được chi ngân sách và có phần đóng góp, điều tiết về cho ngân sách Trung ương; Năm 2009 thu ngân sách trên địa bàn vượt qua mốc 10 ngàn tỷ đồng và đến năm 2014 vượt trên 20 nghìn tỷ đồng; Năm 2016 đạt 32,58 ngàn tỷ đồng (gấp 285 lần so với năm 1997), trong đó thu nội địa đạt 29,1 ngàn tỷ đồng, đứng thứ 2 ở miền Bắc sau thủ đô Hà Nội.

Cùng với tăng thu, tổng chi ngân sách địa phương hàng năm cũng được tăng lên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong đầu tư các công trình hạ tầng kinh tế xã hội và đảm bảo các chính sách  an sinh xã hội trên địa bàn.

- Sản xuất công nghiệp đã khẳng định là nền tảng của nền kinh tế. Sau 20 năm tái lập, với đường lối, chủ trương, quan điểm phát triển đúng đắn; sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp xây dựng bình quân giai đoạn 1997-2016 tăng 25,26%/năm. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao như ô tô đạt 56.365 chiếc năm 2016, tăng gần 30 lần so năm 1997; xe máy đạt 1,915 triệu chiếc, tăng 957 lần so năm 1997,…nhiều sản phẩm công nghiệp mới được sản xuất như gạch ốp lát, linh kiện điện tử, phụ tùng xe máy, điện gia dụng,.. góp phần phát triển ngành công nghiệp xây dựng từ một ngành chỉ chiếm 19,52% trong cơ cấu kinh tế năm 1997, đến năm 2016 tỷ trọng công nghiệp Xây dựng đã tăng lên đến 61,91%.

Tiểu thủ công nghiệp làng nghề cũng đã được quan tâm đầu tư phát triển thông qua Chương trình khuyến công hàng năm. Ngân sách tỉnh đã hỗ trợ hàng chục tỷ đồng đào tạo, truyền nghề, xây dựng các mô hình trình diễn,.. giúp các làng nghề bảo tồn và phát triển. Đến  nay, hầu hết các làng nghề đều phát triển mạnh, phát huy tiềm năng, không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhiều làng nghề truyền thống đã khẳng định được vị thế trên thị trường như: làng nghề rắn Vĩnh Sơn; làng nghề đá Hải Lựu; các làng nghề mộc ở Thanh Lãng, Bích Chu, Thủ Độ; làng nghề mây tre đan Cao Phong... Sự phát triển của các làng nghề đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động ở nông thôn, chuyển từ lao động nông nghiệp sang làm nghề với mức thu nhập tăng cao.

- Hoạt động xút tiến và thu hút đầu tư: Ngay từ khi tái lập, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã xác định hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư là chìa khóa quan trọng để Vĩnh Phúc phát triển. Từ đó Đảng bộ, chính quyền các cấp trong tỉnh đã có những quyết sách mang tính đột phá để trở thành “điểm sáng” của cả nước về công tác thu hút đầu tư. Với phương châm “Tất cả các nhà đầu tư đến Vĩnh Phúc đều là công dân của Vĩnh Phúc”, tỉnh đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư như: lựa chọn các nhà đầu tư đủ năng lực để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp; giảm giá thuê đất và gia hạn nộp thuế đất; ban hành chính sách đất dịch vụ; huy động nguồn kinh phí để giải phóng mặt bằng nhanh; chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ; Thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính; Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng; hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách về thu hút đầu tư; Tập trung vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các khu công nghiệp,.... Môi trường đầu tư và kinh doanh thường xuyên được cải thiện đã được các nhà đầu tư đánh giá cao, nhiều năm liền Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của Vĩnh Phúc nằm ở TOP đầu của cả nước.

Kết quả sau 20 năm từ một tỉnh thuần nông, năm 1998 trên địa bàn tỉnh chỉ có 1 khu công nghiệp, với quy mô 50ha (KCN Kim Hoa), đến nay đã có 19 danh mục khu công nghiệp được Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt ưu tiên phát triển, với diện tích 5,5 nghìn ha, trong đó đã có 11 khu công nghiệp được thành lập có diện tích 2.300 ha. Hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp của tỉnh ngày càng được hoàn thiện; Đến năm 2016, tỉnh đã thu hút được 231 dự án FDI với vốn đăng ký 3,56 triệu USD và 653 dự án DDI với vốn đăng ký trên 56,8 ngàn tỷ đồng, trong đó có 55% dự án đầu tư đi vào sản xuất kinh doanh. Một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn vào đầu tư như Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Piaggio, Deawoo bus, tập đoàn Prime, thép Việt Đức,... đã sản xuất ra những sản phẩm chủ lực có giá trị, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao độngđóng góp lớn cho thu ngân sách. Công tác vận động thu hút các dự án ODA đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhiều dự án ODA đã và đang được triển khai với số vốn đầu tư lên tới gần 200 triệu USD, góp phần cải thiện hệ thống giao thông, cấp thoát nước trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên và các huyện, thị lân cận. Năm 2016 tỉnh đã vận động thành công 03 dự án với số vốn được vay dự kiến khoảng 350 triệu USD.

- Ngành Du lịch dịch vụ của tỉnh cũng đã và đang từng bước phát triển nhằm khai thác lợi thế về tài nguyên du lịch. Hạ tầng du lịch được chú trọng đầu tư nâng cấp, nhất là hệ thống giao thông phục vụ các khu du lịch như Tam Đảo 1, Đại Lải, Đầm Vạc, Tây Thiên; Nhiều dự án du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh lớn đã được đầu tư và đi vào hoạt động có hiệu quả như: Khu danh thắng Tây Thiên; Flamingo Đại Lải Resort; Sông Hồng Đầm Vạc Resort, ....đã thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến với Vĩnh Phúc, đưa doanh thu từ các hoạt động du lịch tăng từ 5,1 tỷ đồng năm 1997 lên 1.300 tỷ đồng năm 2016.  Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc đang chuẩn bị đầu tư Khu du lịch Tam Đảo 2 và dự án Khu đô thị sinh thái Vĩnh Thịnh-An Tường. Các hoạt động dịch vụ như vận tải, tài chính ngân hàng, thương mại, thông tin liên lạc,... phát triển nhanh, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

Ngành nông nghiệp cũng được Tỉnh quan tâm đầu tư nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nông dân, đảm bảo an ninh trật tự nông thôn, tạo tiền đề thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ phát triển. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết về phát triển nông nghiệp nông thôn  qua từng giai đoạn như: Nghị quyết số 10-NQ/TU về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001- 2005; Nghị quyết số 03/NQ-TU ngày 27/12/2006 về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2020, định hướng đến năm 2020; Trên cơ sở đó, nhiều cơ chế, chính sách, dự án về hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã được ban hành và thực hiện như: là tỉnh đầu tiên trong cả nước miễn thủy lợi phí cho sản xuất trồng trọt trên địa bàn; Hỗ trợ vùng trồng trọt sản xuất hàng hóa; xây dựng khu sản xuất tập trung; Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân; Hỗ trợ đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng kinh tế xã hội. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và giảm tỷ trọng ngành trồng trọt. Chăn nuôi đã thực sự trở thành mũi nhọn, đột phá trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn như điện, đường, trường, trạm,...được đầu tư nâng cấp, đời sống nông dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt.

Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ và đã đạt được những kết quả quan trọng. Ngay từ năm 2011, tỉnh đã chỉ đạo 100% các xã hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới; đồng thời huy động cả hệ thống chính trị, các tổ chức và người dân cùng tham gia xây dựng nông thôn mới; phân công lãnh đạo cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo từng xã kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện; Tỉnh đã ban hành hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư đồng bộ, công khai, phân cấp rõ ràng; Ưu tiên vốn đầu tư để hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới. Sau hơn 5 năm thực hiện, toàn tỉnh đã huy động được trên 20 ngàn tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới; Đến nay toàn tỉnh đã có 89/112 xã (đạt 79,5%) hoàn thành xây dựng nông thôn mới; 2 huyện (Yên Lạc và Bình Xuyên) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Vĩnh Phúc trở thành tỉnh đứng thứ 2 cả nước về Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng Nông thôn mới”.

 

- Phát triển doanh nghiệp được quan tâm, chú trọng. Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để từng bước hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn phát triển bền vững. UBND tỉnh đã chỉ đạo vận hành Cổng thông tin đối thoại doanh nghiệp - chính quyền; đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính; triển khai Đề án cải thiện môi trường đầu tư và đặc biệt năm 2016 đã triển khai mô hình “Cà phê doanh nhânđịnh kỳ thứ sáu hàng tuần để Lãnh đạo UBND tỉnh đối thoại trực tiếp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp... Do đó, các doanh nghiệp có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, tính đến hết năm 2016, số lượng doanh nghiệp đăng ký tăng 981 lần so năm 1997 và đạt 7.394 doanh nghiệp với số vốn đăng ký đạt 55,9 nghìn tỷ đồng. Việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước được thực hiện có hiệu quả. Kinh tế tập thể, nhất là các hợp tác xã phi nông nghiệp có bước phát triển. Các thành phần kinh tế có nhiều đổi mới, năng động và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế.

- Quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng có nhiều đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả

 

Công tác lập, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch trên các lĩnh vực luôn được tỉnh coi trọng và được bố trí đủ nguồn lực để triển khai thực hiện. Tỉnh đã chỉ đạo các ngành lập và đã phê duyệt nhiều quy hoạch từ quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế xã hội cấp tỉnh, huyện; các quy hoạch ngành và lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, quy hoạch đô thị, nông thôn, quy hoạch xây dựng,…. làm cơ sở cho việc đầu tư các dự án phát triển kinh tế xã hội; trong đó nổi bật là quy hoạch Vùng tỉnh, quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, quy hoạch phân khu theo quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc và quy hoạch ngành, lĩnh vực. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đã thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh để nâng cao chất lượng, đảm bảo tính thống nhất, phù hợp và tính khả thi của quy hoạch.

Công tác quản lý đầu tư xây dựng được quan tâm, chú trọng và đi vào nền nếp, nhất là sau khi có Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phân cấp quyết định đầu tư được thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt gắn với phân rõ quyền hạn và trách nhiệm các cấp trong đầu tư. Công tác phân bổ vốn đầu tư đổi mới theo hướng đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; cơ cấu đầu tư hợp lý, công khai, minh bạch thông qua nguyên tắc, tiêu chí và định mức. Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được nâng lên; công tác quyết toán vốn đầu tư có sự chuyển biến tích cực; Việc đầu tư dàn trải, phê duyệt dự án tràn lan,... đang từng bước được khắc phục.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới theo lộ trình. Hạ tầng giao thông đã được cải thiện: các tuyến đường vành đai, hướng tâm, đường qua các khu công nghiệp, tuyến đường quan trọng qua các địa phương được cải tạo, nâng cấp hoặc đầu tư xây dựng mới; toàn bộ hệ thống đường đô thị đã được cứng hóa; nhiều tuyến đường giao thông nông thôn, đường giao thông nội đồng đã được kiên cố hóa. Hạ tầng điện được phát triển rộng khắp, 100% các xã được phủ lưới điện quốc gia. Hạ tầng cấp, thoát nước được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, đảm bảo đủ nước cấp cho đô thị Vĩnh Yên, Phúc Yên và các thị trấn huyện lỵ, các khu công nghiệp. Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển. Các công trình hạ tầng xã hội  được quan tâm đầu tư, nhất là trường học, y tế, văn hóa. Một số công trình văn hóa công cộng được tập trung đầu tư xây dựng trong thời gian ngắn đã góp phần thay đổi diện mạo, cảnh quan đô thị và nông thôn trên địa bàn. Phát triển đô thị được chú trọng đầu tư cả về số lượng và chất lượng. Tỉnh đã tập trung đầu tư, chỉnh trang các đô thị lớn, đưa Vĩnh Yên trở thành đô thị loại II; Phúc Yên trở thành đô thị loại III; 20 thị trấn, xã được công nhận là đô thị loại V. Việc xây dựng, phát triển nhà ở xã hội trong các khu đô thị được quan tâm đầu tư và đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của nhân dân.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội

 

- Giáo dục - đào tạo không ngừng phát triển cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả, từng bước đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp phát triển của tỉnh. Đến nay, hệ thống giáo dục của tỉnh từng bước được hoàn chỉnh; quy mô giáo dục được mở rộng; Cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường; Tỷ lệ lớp học được kiên cố hoá cao. Vĩnh Phúc là tỉnh thứ 5 của toàn quốc được công nhận đạt chuẩn phổ cập mẫu giáo 5 tuổi vào năm 2013 và đạt phổ cập tiểu học mức độ 2 năm 2014. Chất lượng dạy và học ở các cấp tiếp tục được nâng lên; học sinh của tỉnh luôn đạt thứ hạng cao trong các cuộc thi cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. Vĩnh Phúc luôn được đánh giá là một trong những tỉnh, thành có chất lượng giáo dục tốt nhất cả nước. Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được triển khai rộng khắp. Phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở đạt kết quả tốt. Giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên được quan tâm đầu tư. Hệ thống mạng lưới cơ sở dạy nghề đang được kiện toàn và củng cố theo hướng thu gọn đầu mối, nâng cao chất lượng; dạy nghề đã từng bước gắn với giải quyết việc làm.

- Hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao có nhiều khởi sắc: Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc văn hóa Vĩnh Phúc đã được nghiên cứu, sưu tầm và từng bước được hệ thống hóa. Các công trình trọng điểm được tập trung đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng tạo điểm nhấn về cảnh quan văn hóa du lịch. Công tác tổ chức và quản lý lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo đúng nghi lễ, hình thức phù hợp, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều trò chơi, trò diễn dân gian truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa được khôi phục; một số lễ hội đã làm tốt công tác xã hội hóa, nâng cao quy mô thu hút khách tham quan trong và ngoài nước. Báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình được cải thiện cả về hình thức lẫn nội dung, đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnhnhu cầu của nhân dân. Thể thao quần chúng được triển khai tích cực; thể thao thành tích cao được quan tâm phát triển, một số môn thể thao mũi nhọn của tỉnh đã giành nhiều thành tích tại các kỳ thi đấu quốc gia, quốc tế như: Đua thuyền, Pencatsilat, Bắn súng...

- Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thường xuyên. Tổ chức bộ máy ngành y tế được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả; màng lưới y tế cơ sở cấp xã được củng cố và nâng cấp theo chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư, tổng số giường bệnh đạt tỷ lệ 29,3 giường bệnh/vạn dân, tăng 20,4 giường/vạn dân so với năm 1997. Chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân đã được nâng lên. Đội ngũ y bác sỹ tiếp tục được tăng cường cả về  số lượng và trình độ chuyên môn, đạt tỷ lệ 9,7 bác sỹ/vạn dân, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, 100% số thôn bản có cán bộ y tế và 97% trạm y tế có bác sỹ (năm 1997 có 8,1% trạm y tế có bác sỹ). Công tác phòng, chống dịch bệnh đ­­­­­­­ược triển khai mạnh mẽ và chủ động do đó trong nhiều trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế được triển khai thực hiện tích cực, đồng bộ và hiệu quả. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được duy trì thường xuyên.

- Giải quyết việc làm, giảm nghèo và an sinh xã hội được tỉnh đặc biệt quan tâm. Các hình thức tư vấn, giới thiệu và giải quyết việc làm được tăng cường và đa dạng hóa. Từ năm 1997 đến nay toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho hơn 400 nghìn lượt lao động, trong đó lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đạt trên 20,4 nghìn người. Công tác đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực được đặc biệt quan tâm, qua đó số lượng và chất lượng lao động qua đào tạo được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 9,8% năm 2000 lên 68% năm 2016. Chế độ, chính sách cho các đối tượng được thực hiện theo đúng quy định. Các chế độ BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời. Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ được tiếp tục phát triển. Đến cuối năm 2011, tỉnh đã cơ bản xoá xong nhà tạm cho hộ nghèo, không có hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách, người có công. 100% số bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng. Xây dựng mới được 1.884 nhà và sửa chữa, nâng cấp 2.874 nhà tình nghĩa cho gia đình đối tượng chính sách. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 giảm còn 3,89%.

 

- Khoa học và công nghệ được quan tâm. Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ được đổi mới; nhiều tiến bộ kỹ thuật, mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật đạt kết quả cao được triển khai áp dụng trong sản xuất. Nguồn vốn đầu tư khoa học và công nghệ đã tập trung đầu tư cho các tổ chức khoa học công lập, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp, y tế, giáo dục và đào tạo... góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Yếu tố năng suất, chất lượng, hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng.

- Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Quản lý nhà nước về đất đai, khoáng sản được chú trọng. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản; giao đất, cho thuê đất được thực hiện theo đúng pháp luật; những vi phạm về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản được xử lý nghiêm minh; đã chấn chỉnh tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng sai mục đích và lãng phí đất. Các cơ chế, chính sách về đất ở, đất dịch vụ, bồi thường, tái định cư được thực thi hiệu quả, những vướng mắc về đất dịch vụ tồn tại từ nhiều năm đã cơ bản được giải quyết. Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm; nguồn kinh phí để xử lý, cải thiện môi trường được bố trí năm sau luôn cao hơn năm trước; nhiều nội dung được hỗ trợ trực tiếp đến cấp xã để chủ động triển khai. Các hoạt động truyền thông được triển khai sâu rộng, ý thức bảo vệ môi trường của các tầng lớp nhân dân được nâng lên. Các hoạt động quan trắc, cảnh báo được duy trì thường xuyên. Công tác thu gom, xử lý rác thải nhất là việc đầu tư vận hành các lò đốt rác thải liên xã đã xử lý được một phần rác thải sinh hoạt ở nông thôn. Hạ tầng tiêu thoát và xử lý nước thải đang được triển khai góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Lực lượng công an các cấp đã chủ động nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, nhất là những địa bàn, khu vực trọng điểm, phức tạp. Công tác phòng ngừa, tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội được đẩy mạnh. Các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, khai thác tài nguyên khoáng sản được kịp thời phát hiện. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được quan tâm chỉ đạo, phát triển sâu rộng, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia giữ gìn an ninh, trật tự ở địa bàn dân cư.

- Công tác quân sự - quốc phòng được tăng cường, thường xuyên được các cấp ủy đảng, chính quyền chú trọng. Tỉnh đã chỉ đạo và tổ chức thành công nhiều cuộc diễn tập lớn, nhất là 2 cuộc Diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh (năm 2009, 2016) làm điểm cho toàn quân, toàn quốc được Bộ Quốc phòng, Quân khu 2 đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, trình độ tổ chức chỉ huy điều hành của các cấp, các ngành và ý thức quốc phòng của nhân dân. Lực lượng bộ đội địa phương được xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh được đổi mới đem lại nhiều kết quả tích cực. Hàng năm, tỉnh luôn hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng được nâng lên. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh được đổi mới đem lại nhiều kết quả tích cực. Công tác huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên được chú trọng. Các chính sách hậu phương quân đội thực hiện tốt đúng quy định pháp luật.

- Công tác cải cách hành chính của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực.  Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước được thực hiện đã cải cách tổ chức bộ máy theo hướng hiệu quả và tinh gọn. Công tác thể chế hoá để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền của địa phương được thực hiện kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Công tác tư pháp: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, nội dung, phương pháp và hình thức tuyên truyền phong phú, ngày càng chất lượng và đi vào chiều sâu. Công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật được quan tâm, ngành tư pháp đã thẩm định gần 1,4 nghìn lượt dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai tích cực, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường. Thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và xử lý vi phạm hành chính được kết hợp thực hiện tốt, tập trung vào những vấn đề bức xúc mà dư luận đang quan tâm. Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo được quan tâm giải quyết với nhiều chủ trương, biện pháp tích cực. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hiện tiết kiệm chống lãng phí đã được các cấp, các ngành quan tâm, triển khai tốt ở tất cả các lĩnh vực.

Đánh giá chung: Sau 20 năm tái lập, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm duy trì ở mức cao. Quy mô nền kinh tế ngày càng tăng. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật được tập trung đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị  được củng cố, xây dựng ngày càng vững mạnh. Quốc phòng - an ninh được giữ vững, chính trị, trật tự xã hội ổn định.

 

Ban Biên tập

 

Các tin đã đưa ngày:
tìm kiếm
WebSite
Google
Bạn thấy trang web của tỉnh như thế nào